Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THUỐC KHÁNG NẤM NHÓM TRIAZOLE

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THUỐC KHÁNG NẤM NHÓM TRIAZOLE

Các triazole là một nhóm thuốc kháng nấm quan trọng và thường được sử dụng trong điều trị các bệnh nhiễm nấm toàn thân.
Phân loại các thuốc kháng nấm nhóm Triazole

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THUỐC KHÁNG NẤM NHÓM ALLYLAMINE

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THUỐC KHÁNG NẤM NHÓM ALLYLAMINE

1/ Các allylamine, cũng như các thuốc kháng nấm azole, can thiệp vào quá trình tổng hợp ergosterol nhưng ở giai đoạn sớm bằng cách ức chế sự hình thành squalene epoxide, một tiền chất của lanosterol.

Cơ chế tác dụng và cấu trúc hóa học của nhóm Allylamine

THÔNG TIN VỀ ESMOLOL

Esmolol là một thuốc chẹn beta giao cảm, chọn lọc trên receptor beta-1, không có hoạt tính giao cảm nội tại (ISA), không có hoạt tính ổn định màng (MSA).

Esmolol cấu trúc hóa học tương tự metoprolol, tuy nhiên trong phân tử có thêm một liên kết ester ở vị trí para của vòng phenyl, làm cho thuốc được chuyển hóa rất nhanh thành dạng bất hoạt do phản ứng thủy phân của các esterase của hồng cầu. Vì thế, esmolol có thời gian bán thải rất ngắn, chỉ khoảng 9 phút sau khi dùng đường tĩnh mạch, nên thường cần truyền liên tục hoặc tiêm bolus lặp lại để duy trì tác dụng ổn định.

MỘT SỐ LƯU Ý KHI SỬ DỤNG VITAMIN B12 TRONG ĐIỀU TRỊ

MỘT SỐ LƯU Ý KHI SỬ DỤNG VITAMIN B12 TRONG ĐIỀU TRỊ

1/ Thuật ngữ "vitamin B12" là để chỉ một nhóm hợp chất chứa cobalt, được gọi là các cobalamin. Cyanocobalamin và hydroxocobalamin là các dạng không có hoạt tính dược lý của vitamin B12 được sử dụng trong điều trị, sau khi vào cơ thể chúng sẽ được chuyển hóa thành các dạng có hoạt tính. Một dạng có hoạt tính của B12, gọi là methylcobalamin, cũng được sử dụng trong điều trị.

VITAMIN B12 VÀ BỆNH THIẾU MÁU ÁC TÍNH

Vitamin B12 là một yếu tố vi lượng cần thiết cho sự tăng trưởng, quá trình tạo máu, tổng hợp bao myelin ở TB thần kinh và là đồng yếu tố (cofactor) cho nhiều phản ứng sinh hóa trong cơ thể.

Vitamin B12 chỉ được cung cấp từ các thực phẩm có nguồn gốc động vật, như thịt, trứng, sữa...Nhu cầu B12 cho người trưởng thành là 2 mcg/ngày.

[BÁO CÁO CA LÂM SÀNG] NƯỚC TIỂU HÓA MÀU XANH LỤC DO DÙNG THUỐC

NƯỚC TIỂU HÓA MÀU XANH LỤC DO DÙNG THUỐC

* Ca lâm sàng:
Một người đàn ông 72 tuổi viêm gan mạn tính nhập viện với tình trạng shock do loét dạ dày xuất huyết. Bệnh nhân được đặt nội khí quản, an thần với propofol và bắt đầu điều trị đồng thời viêm phổi bằng ceftriaxone. Nước tiểu của người bệnh dần dần chuyển màu xanh lục trong vài ngày (xem hình). Tình trạng hô hấp và huyết động vẫn ổn định, sau đó bệnh nhân được rút ống khí quản. Sự biến màu nước tiểu sớm trở lại bình thường.

MỘT SỐ LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT TRÊN CÁC ĐỐI TƯỢNG BỆNH NHÂN ĐẶC BIỆT - PHẦN CUỐI

MỘT SỐ LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT TRÊN CÁC ĐỐI TƯỢNG BỆNH NHÂN ĐẶC BIỆT (phần cuối)

Sau 2 bài đăng về lưu ý ở bệnh nhân suy thận và suy gan, chúng tôi tiếp tục chia sẻ thêm các lưu ý trên một số đối tượng bệnh nhân đặc biệt khác.

1/ Bệnh nhân đã ghi nhận hay đang điều trị hạ đường huyết:
Những bệnh nhân này nên được kê đơn metformin nếu có thể. Nếu cần thiết có thể thêm các thuốc làm tăng tác dụng incretin (incretin-effect enhancer) hoặc thuốc ức chế SGLT. Dùng các thuốc khác cẩn thận để tránh hạ đường huyết.

2/ Người cao tuổi:
Bắt đầu với liều thấp và tăng liều cẩn thận. Bắt đầu điều trị với metformin. Nếu cần dùng thuốc sulfonylurea, thì tolbutamide hoặc glipizide có tác dụng ngắn và có lẽ an toàn hơn. Gliclazide cũng có thể được dùng nhưng có tác dụng dài hơn. Nhấn mạnh sự cần thiết của các bữa ăn đều đặn trong ngày. Các thuốc mới hơn nhìn chung vẫn thiếu kinh nghiệm điều trị lâu dài ở bệnh nhân cao tuổi và hầu hết nhà sản xuất đều khuyên cần thận trọng.

3/ Bệnh tim mạch:
Metformin có thể gây nhiễm toan acid lactic ở bệnh nhân huyết áp thấp hoặc suy tim nặng. Pioglitazone bị chống chỉ định. Các thuốc chẹn beta có thể làm giảm các triệu chứng của hạ đường huyết. Thuốc lợi tiểu làm giảm tác dụng hạ đường huyết. Thuốc ức chế men chuyển có thể gây hạ đường huyết. Tránh sử dụng thuốc ức chế SGLT2 trong suy tim. Dùng insulin ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.

4/ Bệnh tiêu hóa:
Chỉ định điều trị insulin ở bệnh nhân mắc các bệnh về tiêu hóa làm giảm mạnh sự hấp thu các thuốc đường uống. Tránh dùng metformin và các thuốc làm tăng tác dụng incretin. Tránh dùng acarbose ở bệnh nhân có bệnh đường tiêu hóa. Cimetidine có thể gây tương tác thuốc với cả metformin và các sulfonylureas.

5/ Điều trị thuốc chống đông:
Thuốc chống đông có thể đẩy các sulfonylureas ra khỏi liên kết protein và làm tăng tác dụng của chúng, và ngược lại.

Chữ viết tắt:
SGLT2: Sodium-Glucose Cotransporter 2 (kênh đồng vận chuyển glucose – natri)

Tham khảo:
Rowan Hillson (2015). Diabetes Care - A Practical Manual 2nd edition (Oxford Care Manuals), page 118-119.

MỘT SỐ LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT TRÊN CÁC ĐỐI TƯỢNG BỆNH NHÂN ĐẶC BIỆT - PHẦN 2: SUY GAN

MỘT SỐ LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN SUY GAN


1/ Gan chịu trách nhiệm chuyển hóa và/hoặc thải trừ tất cả các sulfonylureas, do vậy thường tránh sử dụng các thuốc này.
2/ Pioglitazone có thể làm suy giảm nặng hơn chức năng gan, mặc dù một vài chuyên gia vẫn sử dụng nó ở những bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH).
3/ Metformin bị chống chỉ định vì sự tích lũy acid lactic có thể xảy ra khi gan mất bù. Uống rượu quá mức có thể dẫn đến nhiễm toan acid lactic.
4/ Cần giảm liều dapagliflozin, tránh sử dụng canagliflozin và empagliflozin ở bệnh nhân bệnh gan nặng.
5/ Nhà sản xuất không cảnh báo nguy cơ đối với thuốc đồng vận GLP-1 ở bệnh nhân có bệnh gan; các thuốc này cho thấy làm cải thiện tình trạng bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD), mặc dù chưa được chấp thuận sử dụng với mục đích này.
6/ Các thuốc ức chế DPP-4 nên được giảm liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình, và tránh sử dụng khi suy gan nặng.
7/ Bệnh nhân mắc bệnh gan nặng thường được điều trị với insulin và cần hết sức cẩn thận (ví dụ, ở người nghiện rượu có thể khó điều trị và lưu ý nguy cơ hạ đường huyết).

* Ghi chú: Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) trong bài bao gồm:
- Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH)
- Xơ gan (Cirrhosis)
- Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma)
- Suy gan (Liver failure)

Chữ viết tắt:
NASH: Non-alcoholic steatohepatitis (viêm gan nhiễm mỡ không do rượu)
NAFLD: Non-alcoholic fatty liver disease (bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu)
GLP-1: Glucagon-like peptide-1
DPP-4: Dipeptidyl peptidase-4

Tham khảo:
Rowan Hillson (2015). Diabetes Care - A Practical Manual 2nd edition (Oxford Care Manuals), page 118-119.

MỘT SỐ LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT TRÊN CÁC ĐỐI TƯỢNG BỆNH NHÂN ĐẶC BIỆT - PHẦN 1: SUY THẬN

MỘT SỐ LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN

1/ Hầu hết các thuốc hạ glucose máu đều tiềm ẩn nhiều nguy cơ ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận.
2/ Các dạng thuốc tác dụng kéo dài hiếm khi được sử dụng.
3/ Metformin bị chống chỉ định ở bệnh nhân suy thận nặng.
4/ Các sulfonylureas (hoặc dạng chuyển hóa có hoạt tính) như glibenclamide hay glimepiride có thể bị tích lũy khi suy thận.
5/ Glipizide và gliclazide được chuyển hóa ở gan, bài tiết qua nước tiểu một lượng nhỏ dạng còn hoạt tính, do vậy an toàn hơn các thuốc khác.
6/ Linagliptin không cần hiệu chỉnh liều khi có bệnh thận. Các thuốc ức chế DPP-4 khác nên giảm liều ở bệnh nhân CKD giai đoạn ≥ 3.
7/ Exenatide và lixisenatide nên dùng thận trọng ở bệnh nhân CKD giai đoạn 3 và không dùng ở bệnh nhân CKD ≥ 4.
8/ Liraglutide không nên dùng ở bệnh nhân CKD giai đoạn ≥ 3.
9/ Pioglitazone có thể dùng ở bệnh nhân suy thận, nhưng không được dùng ở bệnh nhân thẩm tách máu.
10/ Không khởi đầu điều trị với thuốc ức chế SGLT2 nếu eGFR < 60.
11/ Insulin được thải trừ qua nước tiểu – cần giảm liều khi tình trạng suy thận trở nên nặng hơn.

Chữ viết tắt:
DPP-4: Dipeptidyl peptidase-4
CKD: Chronic Kidney Disease (bệnh thận mạn tính)
SGLT2: Sodium-Glucose Cotransporter 2 (kênh đồng vận chuyển glucose – natri)
eGFR: estimated Glomerular Filtration Rate (Tốc độ lọc cầu thận ước lượng)

Tham khảo:
Rowan Hillson (2015). Diabetes Care - A Practical Manual 2nd edition (Oxford Care Manuals)

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG INSULIN

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG INSULIN


4 NGUYÊN TẮC TRỘN INSULIN:
* Nguyên tắc 1: Hai loại insulin phải do cùng một hãng sản xuất
* Nguyên tắc 2: Insulin nhanh lấy trước, bán chậm hoặc chậm lấy sau
* Nguyên tắc 3: Không nên trộn insulin người và động vật với nhau
* Nguyên tắc 4: Nồng độ của hai loại insulin phải giống nhau

3 NGUYÊN TẮC TIÊM INSULIN:
* Nguyên tắc 1: Ở mỗi vị trí tiêm, da phải được giữ sạch, cơ bắp và lớp mỡ dưới da vùng này phải hoàn toàn bình thường. Đây là điều kiện để insulin được hấp thu tốt.
* Nguyên tắc 2: Các vị trí đều phải được sử dụng luân chuyển
* Nguyên tắc 3: Nếu sử dụng từ 2 mũi tiêm trở lên trong một ngày, phải tiêm vào các vị trí ở các vùng khác nhau. Khi tất cả các vị trí trong vùng đã sử dụng hết mới chuyển sang vùng khác.

Tham khảo:
Bộ Y tế (2013). Quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Nội tiết, trang 218-219.